Bỏ qua tới nội dung chính

Toàn cảnh thị trường: Chu kỳ tiền tệ và tác động đến định giá VN30

Biên lãi ròng (NIM) và chất lượng tài sản ngân hàng, dòng vốn gián tiếp và cơ hội tái định giá nhóm cổ phiếu trụ cột sau khi nâng hạng FTSE có hiệu lực.

1. Môi trường vĩ mô và động lực thanh khoản

Bước vào giai đoạn cuối năm 2026, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn 4,5% và tái chiết khấu 3,0%, nhưng mặt bằng lãi suất thị trường đã đi lên. Lãi suất tiền gửi bình quân giao dịch mới đạt 6,38% ngày 20/9/2026, cao hơn cuối năm 2025 khoảng 1,15 điểm phần trăm, do tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Từ ngày 18 đến 21/10/2026, NHNN yêu cầu các ngân hàng giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm ở mức 4,31%/năm ngày 22/10/2026.

Tỷ giá USD/VND tương đối ổn định: tỷ giá liên ngân hàng cuối tháng 9 thấp hơn cuối năm 2025 khoảng 1,17%. Tuy nhiên, cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng nhập siêu khoảng 19,42 tỷ USD, nên bộ đệm bên ngoài mỏng hơn những năm xuất siêu lớn. Với lãi suất tiết kiệm tăng, dòng tiền nhàn rỗi có thêm lựa chọn ngoài cổ phiếu, khiến thanh khoản vào nhóm vốn hóa lớn VN30 phụ thuộc nhiều hơn vào triển vọng lợi nhuận. Bối cảnh chi tiết được phân tích tại Lãi suất và tỷ giá cuối năm 2026.

2. Phân tích biên lãi ròng (NIM) và chất lượng tài sản ngân hàng

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ghi nhận sự phân hóa rõ nét về biên lãi ròng và bộ đệm dự phòng. Các ngân hàng có lợi suất tài sản cao như MB và Techcombank duy trì NIM trên 3,5%, trong khi nhóm quốc doanh có NIM thấp hơn nhưng tỷ lệ nợ xấu thấp và bộ đệm dự phòng dày.

Chỉ số Tài chínhVCBMBBTCBCTG
Kỳ số liệuQuý II/2026Quý II/2026Quý III/2026Quý II/2026
Biên lãi ròng (NIM)Gần 3% (MBS ước tính quý III)4,16%3,5%2,90%
Tỷ lệ Nợ xấu (NPL)0,61%Không nêu trong nguồn1,36%1,20%
Tỷ lệ Bao phủ Nợ xấu279%Trên 97%Khoảng 107%134,0%

Nguồn: Vietcombank qua DNSE, MBS qua Đọc Nhanh; công bố kết quả của MB và Techcombank; VietinBank theo TCBS.

Bộ đệm dự phòng không đồng đều: Vietcombank duy trì mức bao phủ cao nhất nhóm, còn tỷ lệ bao phủ của VietinBank giảm từ 167,2% xuống 134,0% trong quý II và của Techcombank ở khoảng 107% khi tỷ lệ nợ xấu quý III tăng lên 1,36%. Chất lượng tài sản vì vậy vẫn là biến số cần theo dõi khi đánh giá khả năng tái định giá nhóm ngân hàng.

3. Triển vọng tái định giá sau khi nâng hạng thị trường

Một trong những động lực lớn nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn này là việc FTSE Russell nâng hạng Việt Nam từ cận biên (Frontier Market) lên mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging Market), có hiệu lực từ ngày 21/9/2026 và được triển khai theo nhiều đợt.

Cơ chế giao dịch không yêu cầu ký quỹ trước (Non-Pre-funding Solution - NPS) và mô hình giao dịch qua nhà môi giới toàn cầu là những cải cách được FTSE ghi nhận. Theo kịch bản cơ sở của HSC, tổng dòng vốn thụ động cho toàn bộ lộ trình khoảng 1,509 tỷ USD, trong đó đợt đầu khoảng 150,9 triệu USD, phân bổ vào các cổ phiếu trong rổ FTSE chứ không chỉ VN30. Chi tiết được trình bày trong bài Một tháng sau nâng hạng FTSE.

4. Kết luận và định hướng phân bổ danh mục

Với P/E trượt 12 tháng của VN-Index khoảng 11,6 lần, lợi suất lợi nhuận tương đương khoảng 8,6%, cao hơn lãi suất tiền gửi bình quân 6,38% nhưng phần bù đã hẹp lại khi lãi suất tiền gửi tăng. Trong kịch bản cơ sở, nhóm hưởng lợi nhiều nhất từ chu kỳ tái định giá là các doanh nghiệp đầu ngành có ba đặc tính:

  1. Năng lực tạo dòng tiền tự do (FCF) lành mạnh và đòn bẩy tài chính thấp.
  2. Hưởng lợi trực tiếp từ xu thế dịch chuyển công nghệ và chuyển đổi số (như FPT).
  3. Vị thế đầu ngành có khả năng tận dụng sự phục hồi của tiêu dùng và đầu tư công nội địa.

Nguồn tham khảo

Về tác giả

Hội đồng Nghiên cứu Ginity

Tác giả Ginity

Hội đồng Nghiên cứu Ginity viết về Vĩ mô & tiền tệ trên Ginity.

Được xem xét bởi TS. Nguyễn Minh Tuấn · Ginity Research

Xem hồ sơ và bài viết